Vị mặn khí ôn không độc.
Đậu khấu, Sa nhân, Mộc qua, Ngũ vị làm sứ
CHỦ DỤNG:
Tiêu hóa thức ăn, tiêu đờm, chữa khí lạnh, trưng hà trướng đầy ở ngực và cách mạc, hạ khí xuống khoan khoái trong ruột, huyết trệ ở thượng tiêu, trong bụng sôi như sấm, ngăn hoắc loạn, tiêu chất ăn cũ, khai vị, thật là thuốc nhạy bén để làm ấm trung tiêu.
Vương sử Cổ có nói: Hai vị Mạch nha và Thần khúc người mà khí của tỳ vị hư nên uống để giúp cho tỳ vị làm nát nhừ thức ăn, là ý nghĩa theo loại của nó, dùng cốc loại để tiêu cốc, không có cái nạn nạo vét quá mạnh. Chứng vị hư, đồ ăn tích trệ thì nên dùng, còn như cho là nó có tác dụng làm mạnh tỳ vị, uống lâu bổ ích cho người thì e rằng chưa phải vậy; vì, nếu chân hỏa ở trên và dưới không vượng thì đâu có công năng vận hành khỏe mạnh, không thể cậy tác dụng khắc tước của Mạch nha để thành công bổ ích được.
CẤM KỴ:
Có thai chớ dùng, sợ trụy thai; người thuộc hư cũng nên dùng ít là vì phòng ngừa nó làm tiêu mất thủy dịch của thận.
Tiết Lập Trai chữa một người nhân vì có con chết mà buồng vú sưng trướng muốn thành ung, dùng Mạch nha 1-2 lạng sao chín sắc uống, sưng tiêu ngay, do đó biết được sức phá khí, phá huyết của Mạch nha vậy.
Cho nên, Đan khê có lời răn rằng Mạch nha làm tiêu hao tạng thận là thế.
CÁCH CHẾ:
Sao vàng giã bỏ trấu rồi dùng.
NHẬN XÉT:
Mạch nha tính dính trệ, ngâm nước nảy mầm, khí của nó tuy có hơi thanh mà tính còn chưa biến hóa, sao đến sắc đen lại có công có lực chuyên chủ tiêu hóa ngũ cốc tích trệ. Người xưa có thuyết "Tiêu thận" là vì cớ nó công phạt vị khí.
Nội kinh nói: dạ dày là bể chứa thủy cốc và khí huyết, hóa sinh dinh vệ mà nhuần cho "tông cân". Lại nói: Âm dương là nơi hội họp của tông cân mà Dương minh là đầu hết, cho nên tổn thương thì dương sự phải suy.
Lý Thời Trân nói: Có tích thì tiêu tích, không có tích thì tiêu hao nguyên khí. Các tiên hiền đối với loại thuốc công phạt rất nhẹ như vị Mạch nha mà còn ân cần dạy bảo như thế, huống chi những vị tả lợi mạnh như loại Phác tiêu, Đại hoàng thì có nên thường dùng để thử không? Chỉ khi nào có bệnh đó thì bệnh chịu lấy, mà cũng không nên dây dừa nuôi bệnh để đến nỗi thành hại lớn.
CHỦ DỤNG:
Tiêu hóa thức ăn, tiêu đờm, chữa khí lạnh, trưng hà trướng đầy ở ngực và cách mạc, hạ khí xuống khoan khoái trong ruột, huyết trệ ở thượng tiêu, trong bụng sôi như sấm, ngăn hoắc loạn, tiêu chất ăn cũ, khai vị, thật là thuốc nhạy bén để làm ấm trung tiêu.
Vương sử Cổ có nói: Hai vị Mạch nha và Thần khúc người mà khí của tỳ vị hư nên uống để giúp cho tỳ vị làm nát nhừ thức ăn, là ý nghĩa theo loại của nó, dùng cốc loại để tiêu cốc, không có cái nạn nạo vét quá mạnh. Chứng vị hư, đồ ăn tích trệ thì nên dùng, còn như cho là nó có tác dụng làm mạnh tỳ vị, uống lâu bổ ích cho người thì e rằng chưa phải vậy; vì, nếu chân hỏa ở trên và dưới không vượng thì đâu có công năng vận hành khỏe mạnh, không thể cậy tác dụng khắc tước của Mạch nha để thành công bổ ích được.
CẤM KỴ:
Có thai chớ dùng, sợ trụy thai; người thuộc hư cũng nên dùng ít là vì phòng ngừa nó làm tiêu mất thủy dịch của thận.
Tiết Lập Trai chữa một người nhân vì có con chết mà buồng vú sưng trướng muốn thành ung, dùng Mạch nha 1-2 lạng sao chín sắc uống, sưng tiêu ngay, do đó biết được sức phá khí, phá huyết của Mạch nha vậy.
Cho nên, Đan khê có lời răn rằng Mạch nha làm tiêu hao tạng thận là thế.
CÁCH CHẾ:
Sao vàng giã bỏ trấu rồi dùng.
NHẬN XÉT:
Mạch nha tính dính trệ, ngâm nước nảy mầm, khí của nó tuy có hơi thanh mà tính còn chưa biến hóa, sao đến sắc đen lại có công có lực chuyên chủ tiêu hóa ngũ cốc tích trệ. Người xưa có thuyết "Tiêu thận" là vì cớ nó công phạt vị khí.
Nội kinh nói: dạ dày là bể chứa thủy cốc và khí huyết, hóa sinh dinh vệ mà nhuần cho "tông cân". Lại nói: Âm dương là nơi hội họp của tông cân mà Dương minh là đầu hết, cho nên tổn thương thì dương sự phải suy.
Lý Thời Trân nói: Có tích thì tiêu tích, không có tích thì tiêu hao nguyên khí. Các tiên hiền đối với loại thuốc công phạt rất nhẹ như vị Mạch nha mà còn ân cần dạy bảo như thế, huống chi những vị tả lợi mạnh như loại Phác tiêu, Đại hoàng thì có nên thường dùng để thử không? Chỉ khi nào có bệnh đó thì bệnh chịu lấy, mà cũng không nên dây dừa nuôi bệnh để đến nỗi thành hại lớn.