Nhục đậu khấu

KHÍ VỊ:

Vị cay khi ôn không độc, vào Túc Thái âm và Túc dương minh, lại vào cả kinh Túc Dương minh Đại tràng.


CHỦ DỤNG:

Làm ấm tỳ vị hư lạnh, chữa bụng dạ trướng đau, thức ăn ngưng đọng không tiêu, ỉa chảy lãnh ly lại càng cần phải có nó.

Lại có khả năng tiêu độc rượu, trừ tích lạnh, hạ khí, khoan khoái ngực, chữa chứng hoắc loạn mửa ra bọt dãi, chữa đi tả do Đại tràng hư, chữa cả chứng khí ly và lỵ ra máu mũi, trẻ em hoắc loạn nôn mửa không chịu ăn, đi ngoài lỏng, đau bụng giun.

Sách Nhật hoa nói: Nhục khấu hạ khí xuống, là vì tỳ được bổ mà vận hóa tốt hơn thì tự nhiên hạ xuống, không phải như Trần bì, Hương phụ tiết ra mau chóng.

Sách Diễn nghĩa nói: Uống nhiều tổn khí e rằng không đúng.


CẤM KỴ:

Nếu chứng thấp nhiệt tích trệ dương thịnh, và chứng nước sôi hòa với bột nếp hoặc hòa với dấm lấy bột mì bọc lại nướng trong than tro chín vàng lấy ra, rồi dùng giấy thấm nước bọc lại đập cho dầu thấm ra hết, kiêng dùng đồ đồng để chế.


NHẬN XÉT:

Nhục đậu khấu bẩm thụ khí của hành Hỏa, Thổ và Kim để sinh, vị cay thì tán được, tiêu được, tính ôn thì điều hòa làm cho trung tiêu thông suốt, khí thơm thì vào tỳ trước, ấm thì mở được dạ dày, cho nên, nó là vị thuốc thánh để điều hòa tỳ, khai vị, tiêu thức ăn ngưng đọng, chỉ tả.