Trúc diệp - Trúc nhự - Trúc lịch

TRÚC DIỆP

(lá tre)

Tre có nhiều giống, chỉ cần lấy giống to mà có vị ngọt là hơn, loại tre 1 tuổi, non mà có sức, lấy nước dùng càng tốt.

 

KHÍ VỊ

Vị ngọt, tính hàn, không độc, có thể thăng cũng có thể giáng, là thuốc dương trong âm dược, vào Túc dương minh và Thủ thiếu âm kinh.

 

CHỦ DỤNG

Trừ hết chứng ho hen suyễn thở khí nghịch lên, lui chứng hư nhiệt buồn phiền vật vã, có thể thanh tâm trừ nhiệt, chữa đờm nhiệt trong ngực, chữa chứng dương minh khách nhiệt, khát nước, thanh phế khí, lợi thủy tiêu đờm.


KỴ DÙNG

Vì nó tính chạy mà không giữ lại, không có bổ ích cho người, đàn bà có mang kiêng dùng, người xưa cho măng tre là thứ nạo trong ruột.

 

 

TRÚC NHỰ

(tinh tre)

Cạo bỏ lớp vỏ xanh, lấy từ lớp vỏ vàng trở vào trong là tinh tre. Tuy nó cùng một cội rễ tre, song nó được nhiều thổ khí hơn.

 

KHÍ VỊ

Vị ngọt, hơi hàn, vào Túc dương minh kinh.

 

CHỦ DỤNG

Trừ chứng nôn ói do khí nghịch lên, chữa chứng tiêu khát, nôn mửa, chảy máu cam, thổ huyết do huyết nhiệt, chứng băng huyết, chứng làm bế, tiêu chứng nghẹn.

Chữa phong đờm, lợi tiểu, chữa 5 chứng trĩ, làm dịu cơn đau co quắp, chữa đau họng, hư phiền không ngủ, đứt chứng khái huyết lao phổi và thương hàn lao thương âm hành sưng co lại, đau bụng thũng độc, thai kinh đau vùng tim, chữa chứng nôn nghén rất hay, trẻ con động kinh, cấm khẩu người nóng, sát trùng chữa nóng lạnh.

 

 

TRÚC LỊCH

(Nước măng tre)

Đem nướng thì tự nhiên nước chảy ra, mỗi chén trúc lịch, gia vào 1 thìa nước cốt gừng. Đến như vị Kinh lịch tính vị gần giống nhau, nhưng chứng khí thực nhiều hàn thì dùng Kinh lịch, khí hư nhiều nóng thì dùng Trúc lịch.

(Kinh lịch: Chặt cây Mẫu kinh tươi lấy cọng, cắt đoạn dài 1 thước ta, 2 đầu kê trên gạch, giữa nổi lửa mà nướng nước cốt sẽ chảy ra 2 đầu, lấy bát mà hứng.)


KHÍ VỊ

Vị ngọt, dùng nước cốt gừng làm sứ.

 

CHỦ DỤNG

Trị trúng phong đờm sôi chắn nghẹt, tinh thần đờ đẫn, phong đờm ở ngoài niêm mạc trong da, cùng kinh lạc, chân tay... không có nó thì không thể dẫn khắp được.

Cũng như đàn bà tiền thai sản hậu các chứng, có thai uống không hại thai, đẻ rồi uống không gây hư nhược kiêm trị cả chứng dương hư, phát sốt, trẻ con động kinh trợn mắt, nhiệt hãm phiền khát, âm hư đờm hỏa, hiệu nghiệm như mở khóa.

 

KỴ DỤNG

Uống lâu ngày sẽ làm cho hoạt trường, tỳ hư ỉa chảy thì chớ dùng, nếu chứng hàn đờm, thấp đờm cũng như thực tích sinh đờm, đều không phải sở năng của Trúc lịch.

 

NHẬN XÉT

Trúc lịch rất hay bổ âm, sở trường ở thanh hỏa, tính nó hoạt lợi, chạy khắp các khiếu, trục đờm, là thuốc chủ yếu chữa trúng phong, bởi vì chứng đờm đâu có vượt ngoài khuôn khổ do âm hư hỏa vượng thiêu đốt tân dịch mà thành đờm, làm nghẹt, lấp khí đạo, cho nên nhờ vào nó có tính lưu lợi để tuyên thông, người đời cho rằng lạnh lắm là không đúng, huống gì nhờ đốt mà chảy ra nước, lại nhờ nước cốt gừng làm tá thì sao còn lạnh?