Liên nhục

Có một tên nữa gọi là Ngẫu thực, hạt sen.

KHÍ VỊ:
Vị ngọt, khí bình không độc, vào kinh Túc Thái âm, Túc dương minh và Thủ túc thiếu âm.

CHỦ DỤNG:
Bổ trung khí nuôi thần, thanh tâm, cố tinh, thanh hỏa, thông huyết mạch, sáng tai mắt, mạnh tỳ vị, ngăn tả lị, khỏi băng đới.
Làm cho tâm và thận giao nhau, giữ vững thần vui, trừ nóng yên tâm, chỉ khát trừ phiền. Uống lâu thì nhẹ mình thêm thọ, lâu năm không già.

HỢP DÙNG:
Cùng với Nhân sâm (Liên một lạng, Sâm 5 đồng), và Hoàng liên 5 đồng nữa chữa lỵ cấm khẩu.
Cùng Thỏ ty, Ngũ vị, Sơn thù, Sơn dược, Xa tiền, Nhục đậu khấu, Sa nhân, Quất hồng, Khiếm thực, Nhân sâm, Bổ cốt chỉ, Ba kích chữa chứng quanh năm đi tả do tỳ và thận đều hư.
Cùng Long cốt, Ích trí liều lượng bằng nhau chiêu với nước cơm chữa chứng Bạch trọc, di tinh.
Cùng Chích thảo (Liên 6, Thảo 1) tán bột, chiêu với nước Đăng tâm chữa chứng Xích trọc thuộc tâm hư.

CÁCH CHẾ:
Bỏ vỏ và ruột chưng chín rồi dùng, nếu không bỏ ruột sẽ làm cho người ta mửa.

NHẬN XÉT:
Hoa sen mọc từ dưới bùn đen mà không ô nhiễm màu bùn, sinh hóa không ngừng, tiết này qua tiết khác thì tàng kín, phần giữa thì thịt trắng, trong lòng ẩn màu xanh, được khí thơm trong của trời đất, bẩm thụ mùi vị xung hòa của đất, đất là mẹ sinh ra muôn vật, là nguyên khí của hậu thiên, khí của mẹ đã hòa thì huyết khí sinh, thần được nuôi dưỡng, tật bệnh không do đâu mà sinh ra được.

Cho nên củ, tua, hoa quả, lá, mắt, vỏ ruột đều là thuốc hay, khí thơm vị ngọt hợp với giống lúa, là loài quả của tạng tỳ, tỳ màu sắc vàng, ở trung ương do đó làm cho thủy hỏa giao hòa, mộc kim hòa hợp, khiến cho thổ vượng thì yên ổn chỗ qui tàng. Công của Liên nhục thật là lớn vậy.


Phụ:

A - THẠCH LIÊN:
Sách Y học nói: (tức là Sen rụng, trải qua mùa Thu héo rạc trong thì khô mà vỏ đen, chìm dưới nước) rất có khả năng thanh tâm. Lại có người cho Thạch liên tức là Liên tử của đạo Lão.


B - HÀ TỴ (Cuống sen):
Yên thai rất tốt trục huyết ứ, giữ huyết tốt lại kiêm chữa cả chứng huyết lỵ (lỵ ra máu).


C - LIÊN PHÒNG (Gương sen):
Tức là cái gương sen. Đốt ra than chỉ huyết rất nhanh. Để sống dùng nấu với rượu có tác dụng đẩy thai ra, hạ rau thai.


D - HÀ DIỆP (Lá sen):
Giúp cho tỳ làm cho ăn được nhiều hơn, chỉ huyết cố tinh, yên thai, chỉ tả, phá huyết chỉ khát, trong thuốc chữa chứng Lôi đầu phong (1) người ta cũng gia vào. 
Sách Phụ nhân lương phương đều có ghi chép: sinh ra thanh khí của tinh Thiếu dương, ngửa lên như cái chậu, giống hình thể quẻ Chấn. Người ta ăn hoặc uống làm thuốc cảm khí hóa ấy của nó thì vị khí làm gì không thăng lên được.

(1) Lôi đầu phong; trên đầu đỏ sưng, nổi hạch bằng quả táo, người bệnh cảm thấy như nghe tiếng sấm.


E – HÀ BIÊN (Cánh sen):
Yên định tâm thần, nhẹ mình, giữ được sắc đẹp lại. Kiêng dùng chung với Tỏi và Địa


F - LIÊN TU (Tua sen):
Bổ ích cho thận chữa được di tinh, giữ vững tinh khí, đen râu tóc, chỉ nôn ra máu, chữa đi ngoài lỏng, vị ngọt chát, khí ổn mà bình, vào kinh Túc Thiếu âm, cũng thông cả với kinh Thủ Thiếu âm.


G - NGẪU TIẾT (Ngó sen):
Bẩm thọ khí của đất mà sinh ra, cho nên vị ngọt, để sống thì hàn nấu chín thì ôn, vào ba kinh Tâm, Tỳ và vị.

Để sống ngọt mà hàn, có khả năng mát huyết, chỉ huyết, trừ nhiệt, mát dạ dày, cho nên chủ tiêu tan huyết ứ, thổ huyết, huyết ra ở miệng và mũi, sau khi sinh do máu xấu gây nên buồn bực (sau khi sinh kiêng ăn uống các thức sống lạnh, duy ngó sen thì không thế, vì nó có tác dụng phá được huyết ứ).

Chườm đắp chữa các vết thương do đâm chém, gãy xương, ngăn chứng nhiệt khát, chữa chứng Hoắc loạn buồn phiền, giải độc rượu.

Dùng chín thì ngọt ấm có khả năng mạnh tỳ, khai vị thêm huyết bổ tim cho nên chữa được bệnh của năm tạng, làm chắc hạ tiêu, tiêu hóa thức ăn, ngăn ỉa chảy, sinh da non. Dùng lâu làm cho người ta vui vẻ ít giận, lại giải được độc của cua bể; thường hòa với mật ong mà ăn thì làm chắc hạ tiêu, mở rộng dạ dày, tiêu thức ăn, biến hóa tinh vi; chữa cả chứng lâm lậu và chứng khô khát sau khỏi bệnh.

Cùng giã với Sinh địa vắt lấy nước chữa nôn ra máu và chẩy máu mũi, cho vào rượu và Đồng tiện cũng dễ có công hiệu.