Vị đắng cay ngọt, khi ôn không độc, vào kinh Túc Dương mình và Túc Thái âm, tính nổi mà đưa lên, thuốc dương dược.
Tiêu đờm kết, làm khoan khoái khí trong ngực, chữa chứng đại phong ở mình và ở mặt, chứng phong chóng mặt nhức đầu.
Trừ sơn lam chướng khí, thời khí, ôn dịch, ấm da dày, an thai, khoan khoái trung tiêu làm cho ăn được, khu trừ tích bảng, khi kết thành cục, ỏng bụng chướng đau.
Có công năng bổ tỳ ráo thấp như Bạch Truật, nhưng Bạch truật tính bổ nhiều mà liễm được mồ hôi, Thương truật khí mạnh lại hay phát hãn. Bạch truật bẩm tính xung hòa, trực tiếp giữ vững trung khí thanh dương, Thương truật tính nhiều táo mạnh công chuyên về khu trừ phong thấp.
Lại nói: nó có khả năng ngăn hoắc loạn thổ tả, đau mắt có màng, người dương hư uống lâu sẽ trẻ lại, mạnh gần sáng mắt, mượt da đen râu.
HỢP DỤNG:
Cùng dùng với Hoàng bá, Ngưu tất, Thạch cao thì đi xuống chữa bệnh thấp ở hạ tiêu.
Cho vào Bình vị tán thì trừ được thấp ở trung tiêu mà làm thăng bằng khí có thừa ở dạ dày.
Cho vào loại thuốc như Thông bạch, Ma hoàng thì tán được tà trừ phần thịt cho đến phần ngoài da.
CẤM KỴ:
CẤM KỴ:
Phàm người huyết hư khiếp nhược, người thất tình buồn bực khí kết, nếu dùng lầm nó thì hao khí huyết khô tân dịch, hư hỏa động mà buồn bực càng nhiều. Vì tính nó táo mạnh, công trừ thấp thì có thừa mà công giúp tỳ bổ trung tiêu không đầy đủ, cho nên chứng đại tiện táo, khát nước hỏa thịnh quá thuộc âm hư thì nhất thiết phải kiêng.
NHẬN XÉT:
NHẬN XÉT:
Thương truật là thuốc chủ yếu của chứng thấp, chứng đờm, cay mà ấm trừ được tà, nó được chính khí của trời đất, trong sách Thần nông bản thảo kinh chưa chia ra Thương truật và Bcạh truật, đến Đào ẩn Cư mới phân biệt, rồi sau quý Bạch truật mà xem thường Thương truật là chưa hoàn thiện.
Đông viên: khả năng bổ trung tiêu trừ thấp thì không bằng Bạch truật, nhưng công dụng để khoan trung trừ thấp thì lại hơn. Nói như vậy là đúng.
CÁCH CHẾ:
Tẩm nước gạo một đêm, bỏ vỏ sao vàng sẫm, hoặc tẩm đồng tiện cũng tốt.