KHÍ VỊ:
Vị chua khí bình không độc, vào kinh Túc Dương minh và Túc Thái âm.
CHỦ DỤNG:
Tiêu thức ăn tích tụ, là thuốc chủ yếu của nhi khoa; chữa đau dạ con là rất tốt lành cho sản phụ.
Còn như tiêu huyết trệ, chữa sang lở, hành khí kết, mạnh tỳ vị, khỏi đầy trướng, tiêu ngưng trệ cũ đều nên dùng nó.
Là vì vị chua thuộc Giáp, ngọt thuộc Kỷ, Giáp Kỷ hóa thổ, cho nên cho vào thuốc bổ tỳ, để giúp tỳ vận hóa.
Lại như tác dụng tiêu huyết cục, tan thịt tích cũng cần dùng, là vì vị chua thì vào gan trừ bỏ huyết tích trệ ở đó. Thịt tích trệ cũng là loại huyết dịch hóa ra.
Hột của Sơn tra chủ về thôi sinh (dễ đẻ) và Sán khí.
HỢP DỤNG:
Cùng dùng với Nhân sâm, Bạch truật thì tiêu được tích trệ; cùng dùng với Xuyên khung, Đương quy thì tan được huyết cũ.
CẤM KỴ:
Nếu tỳ hư không vận hóa được, uống nhiều uống lâu thì càng hại đến khí sinh hóa của tỳ vị, lại càng trệ thêm, là vì Sơn tra đã không có khả năng dẹp yên rối loạn, lại cũng không có lực lượng bổ ích cho chân nguyên, chỉ có dùng tạm để giúp cho các vị thuốc khác thôi. Tại sao đời nay trong loại thuốc chữa trẻ em, hễ động đến là dùng nó ngay, là vì lý do gì?
CÁCH CHẾ:
Thứ lâu năm thì tốt, rửa sạch đồ mềm bỏ hột dùng
NHẬN XÉT:
Sơn tra khéo trừ được chất thịt tanh tao tích trệ, không giống với Mạch nha tiêu ngũ cốc tích trệ.
Trọng cảnh chữa Thương hàn gồm 113 phương chưa từng dùng Mạch nha và Sơn tra là vì sao? Là vì tính nó chậm cũng như người không có khả năng dẹp loạn, cho nên chỉ dùng Đại thừa, Tiểu thừa khí thôi. Người đời nay không cứ có chất thịt tích trệ hay không, nhất khái dùng Sơn tra cho là ổn đáng, e rằng đã không ích lợi gì thì tất nhiên phải có hại ít nhiều. Người hiểu biết nên xét kỹ.