Tô diệp -Tô tử - Tô ngạnh

TÔ DIỆP

Phụ: Tô tử, Tô hành, Tô ngạnh, hái vào ngày Đoan ngũ (5/5) hai mặt lá đều có màu tía là tốt.

KHÍ VỊ

Vị cay tính ấm không độc, vào thủ thái âm kinh, kỵ cá chép.

CHỦ DỤNG:

Khai vị hạ khí, thông tâm lợi phế, có khả năng làm ấm bên trong cả bên ngoài., chữa cước khi trướng đầy, vào khí phần cả huyết phần (vị cay cho nên vào khí phần, sắc tía cho nên vào huyết phần), thông cả đại tiểu trường, phát biểu giải cơ chữa thương phong thương hàn, chỉ thống an thai, miệng hôi có thể chữa khỏi.

KỴ DÙNG

Trường hợp khí hư biểu hư thì cấm dùng.


TÔ TỬ

(hạt tía tô, sao qua giã nát)

CHỦ DỤNG

Trừ đờm, giáng khí, cắt cơn suyễn, nhuận tâm phế, chỉ khái nghịch, tiêu 5 chứng cách, phá hết chứng trưng hà, lợi đại tiểu tiện, trừ chứng hoắc loạn nôn mửa.

So với rễ và lá thì hạt nó không phát tán, so với Trần bì thì nó không tiết khí, chữa các bệnh khí mà không hại khí phần, bệnh trúng thử lại càng cần nó, chỉ chứng khí nghịch từ dưới rốn lên thì không thể dùng (Sách Bản thảo nói hạ khí là tán khí, hạt nó hạ khí dữ lắm, cho nên chứng ỉa chảy kéo dài do tỳ vị khí hư là cấm dùng).


TÔ NGẠNH

(cành tía tô)

CHỦ DỤNG

An thai hòa vị, hạ các thứ khí nhưng sức hơi hòa hoãn, phàm người hơi yếu thì nên dùng.


TÔ HÀNH

(Thân cành tía tô)

CHỦ DỤNG

Chuyên trị phong hàn thấp tê.

NHẬN XÉT

Tử tô vốn là thuốc tán phong người thường hay ăn vì thích cái thơm tho của nó, họ đâu có biết nó làm tiết hết cái khí chân nguyên, cho nên có câu: "Loài cỏ thơm, gây nên bệnh cho người giàu sang", người khí hư biểu hư thì phải cấm dùng lá, người nhuận trường, người phế hư thì cấm dùng hạt, thậm chí muốn dùng để an thai hòa vị cũng chẳng qua là lấy cái thơm để điều hòa chứng vị hàn khí trệ mà thôi, há có thể dùng chung chung hoặc dùng lâu ngày mà hãm con người vào cái họa đã hư lại càng thêm hư ru!