(lá ngải cứu)
KHÍ VỊ
Vị đắng cay, tính hơi ấm, không độc, khí thơm nồng là thuốc thuần dương, chạy vào các kinh Túc thái âm, Quyết âm, Thiếu âm, dùng giấm, Hương phụ làm sứ.
CHỦ DỤNG
Ôn vị hành khí, khai uất điều kinh, điều hòa khí huyết chứng băng huyết rong huyết, chứng khí hư bạch đới, có tác dụng làm ấm tử cung, sớm thụ thai, an thai, lại chữa chứng thai chết.
Cầm chứng huyết lỵ, chữa chứng tràng phong hạ huyết, khu hàn, chữa chứng mắt đỏ, giải tán chứng ngoại cảm phong hàn, chặn đứng chứng hoắc loạn chuyển cân, chữa đau bụng, chữa chứng ngứa gãi có trùng, sát trùng trừ 5 loại quỷ.
(Đơn phương dùng Ngải cứu đốt lên khói rồi lấy chén úp lại, chờ khói trên chén thành muội thì lấy xuống, hòa nước rửa mắt hoặc giỏ, lại cho Hoàng liên vào càng hay).
HỢP DỤNG
Chế chung với Hương phụ thì tên gọi là Ngải phụ hoàn, có tác dụng khai uất điều kinh ấm tử cung, bảo vệ thai nghén, chế chung với Can khương tán nhỏ làm hoàn bằng mật gọi là Khương ngải hoàn, có tác dụng khu trừ ác khí lãnh khí, trục quỷ tà khí.
KỴ DỤNG
Bạch âm hư huyết hư thì không nên dùng.
CÁCH CHẾ:
Ngày mồng 5 tháng 5 (Đoan ngọ), lúc mặt trời chưa mọc, nín lặng mà đi hải, phơi nắng cho khô, để cũ lâu ngày là tốt.
NHẬN XÉT
Ngải cứu vị cay có thể lợi khiếu, đắng có thể sơ thông, cho nên hay dùng chữa bệnh thai tiền sản hậu, nhưng dùng sống thời hàn mà kiêm cay tán, dùng chín thời nóng dữ, đốt thành lửa để cứu thời khí dồn rót vào trong, thông trong gân vào trong xương, nấu uống thời bốc lên (thăng), thật là thuốc thiết yếu của phụ khoa.