(hạt cau khô)
KHÍ VỊ:
Vị cay đắng khí ôn không độc, vào kinh Thủ Dương minh, Túc Dương minh, tính giáng xuống thuộc loại âm dược. Có thuyết nói: là vị thuốc dương ở trong âm.
CHỦ DỤNG:
Tiêu thủy cốc ngưng đọng, ngăn tâm đau, giết 3 thứ trùng, phá tích trệ trừ chướng ngược, đưa mọi khí đi xuống, chữa bệnh kiết lỵ mót rặn, chuyên phá trệ khí đi xuống, bài tiết khí rất cao trong lồng ngực, khéo phá kết trệ hữu (cay phá được trệ, đắng giết được trùng, cho nên chủ trị như thần vậy).
Lại ngăn được nôn mửa cồn cào trong lòng, cước khí xung tâm, trị mọi thứ phong, mọi thứ tích, mọi thứ khí (vì tính nó chìm xuống nặng như sắt đá), lại có khả năng đưa mọi thuốc đi xuống.
CẤM KỴ:
Phàm những vị thuốc khéo phá hủy và đi xuống thì tất nhiên dễ làm tổn thương nguyên khí mà hại ngầm chân âm cho nên ngay như chứng kiết lỵ nếu không phải chứng thực lại mới phát thì không được dùng nó bừa bãi, nhất là chứng khí hãm xuống giống như lỵ thì càng cấm dùng.
CÁCH CHẾ:
Thứ trắng thì vị cay phần nhiều tán khí, thứ đỏ vị đắng chát phần nhiều giết trùng, nên dùng nước gio nấu chín, sấy khô mà dùng.
Có thuyết nói: dùng thứ tròn trặn như quả tim gà mà có văn gấm thì tốt dùng dao cắt bỏ vỏ, thái nhỏ, trị chứng cấp tính thì dùng sống, nếu để qua khí lửa thì mất tác dụng; chữa bệnh mãn tính thì sao qua hoặc nấu với giấm.
NHẬN XÉT:
Tân lang hạ khí xuống giống như sắt đá, cho nên phá trệ khí, chữa kiết lỵ một trà rặn như thần.
Ở miền Lĩnh nam hay ăn cau là vì khí chướng lệ sinh ra đều do thức ăn tích lại, mà Binh lang lại có tác dụng tiêu chất ăn ngưng đọng, hạ khí xuống.
Home » Dược phẩm vậng yếu » Binh lang