(Củ to, có màu sắc vàng là đúng, gặp gió thổi không lay động, không gió thì dao động, cho nên có tên là "Độc giao thảo").
KHÍ VỊ:
Vị gọt, đắng, tính ấm không độc, khí và vị đều bạc, nổi mà đưa lên, là dương dược, là thuốc dẫn vào khí phận của kinh Túc thiếu âm.
CHỦ DỤNG:
Là thuốc chủ yếu chữa các chứng cổ gáy cứng không ngẩng lên được, đau nhức các khớp xương, ngứa ngoài da, chữa vết thương đâm chém, chứng bôn đồn, chứng sán hà của phụ nữ, chạy thấu suốt các khớp xương chữa phong thấp tê bại. Cho nên hai chân tê thấp không thể đi được không có vị này là không thể chữa khỏi, các chứng đau răng phong độc, nhức đầu mờ mắt, có vị này là có thể chữa khỏi, tuy chữa chứng phục phong mà còn giúp cả công táo thấp nữa.
HỢP DỤNG:
Dùng với Tế tân thì chữa chứng nhức đầu phong thuộc kinh thiếu âm, và chứng phục phong của Túc Thiếu âm.
NHẬN XÉT:
Độc hoạt là thuốc dẫn chạy vào trong và ngoài kinh Túc thiếu âm, chuyên trị đầu phong và phục phong của kinh Thiếu âm mà không phải kinh Thái dương. Cổ nhân chia ra hai thứ Khương hoạt và Độc hoạt vì Khương hoạt khí hùng mạnh, chữa được chứng du phong thủy thấp; Độc hoạt khi nhỏ bé mà kém, tính đi xuống dưới, chữa phục phong thủy thấp, cho nên chân bị tê thấp dùng nó càng hay, Khương hoạt khí thanh, hành khí, giải tán tà khí ở phần vinh vệ. Độc hoạt khi trọc, hành huyết mà nuôi dưỡng chính khí của vinh vệ, Khương hoạt có công phát biểu, Độc hoạt có cái công trợ biểu.